Chức năng cơ bản của từng khu vực trong căn nhà

Rate this post

Trong một căn nhà được chia làm 6 khu vực chức năng chính, bao gồm: khu vực ăn uông, nơi để tắm giặt, nơi đề ngủ, khu vực đọc sách báo làm việc, nơi giải trí và một khu vực để giữ các đồ cũ trong nhà. Căn cứ vào những chức năng này để chia làm hai khu vực chính là khu vực công cộng (mọi người cùng sử dụng) và khu vực mang tính riêng tư (cá nhân của mỗi người không thể tuỳ tiện sử dụng). Căn cứ vào những đặc điểm hoạt động trong cuộc sông chia làm khu vực tĩnh và động.

Khu vực mang tính chối công cộng: Mọi người cùng sử dụng. Đó là nơi để ăn uống, giải trí nghỉ ngơi hoặc tụ tập hội họp như trong phòng khách, nhà ăn, cửa chính ra vào nhà.

Khu vực mang tính chất riêng tư, cá nhân của mỗi người như: phòng ngủ (phòng ngủ của bố mẹ, phòng của con cái, phòng tắm, phòng vệ sinh – được thiết kế ngay cạnh các phòng ngủ).

Khu vực động: Là nơi hoạt động náo nhiệt, thường xuyên có ngưòi qua lại. Đây là nơi tập trung rất nhiều âm thanh, bao gồm: hành lang đi lại bên ngoài phòng, phòng khách, nhà bếp.
Khu vực tĩnh: Là nơi yêu cầu yên tĩnh, mọi hoạt động sinh hoạt diễn ra khá ít đê đảm bảo hiệu quả công việc. Ví dụ phòng đọc sách, phòng làm việc hay phòng ngủ.
Việc phân chia các khu vực này thể hiện chức năng rõ ràng của chúng.
Từ đó giúp con người sử dụng hợp lý, đạt hiệu quả cao mà không gây ra tình trạng lộn xộn hỗn loạn. Từng khu vực tuy mang đặc điểm chức năng riêng nhưng vẫn có mốì liên quan mật thiết và gắn bó vối nhau trong chỉnh thể của khu nhà.
Phòng khách: Có hai nguyên tắc cơ bản. Một là tính độc lập của nó. Hai là hiệu xuất sử dụng không gian. Có những phòng khách độc lập riêng lẻ, không bị phân chia không gian vói các phòng khác (như phòng khách làm nơi đọc sách báo, nơi làm việc). Và có loại không gian bị chia cắt để làm mục đích khác. Điều này phụ thuộc vào diện tích to nhỏ của phòng để phân chia cho thích hợp. Ngoài ra, chúng ta cũng phải lưu ý đến vị trí bốn góc nhà của phòng xem có thể sử dụng được không. Ỏ những vị trí đó có phù hợp để lắp cửa sổ hay cho một ban công nhỏ bên ngoài. Nếu lắp đặt có ảnh hưởng đến việc bô’ trí sử dụng các đồ đạc trong phòng không, có làm giảm hiệu suất sử dụng không gian hay không. Ngoài ra, việc lắp đặt các cửa sổ cũng ảnh hưởng đến lượng ánh sáng trong phòng.

Đối với nhà bếp: Khi xem xét khu vực bếp núc, chúng ta đầu tiên phải nghĩ tới thói quen nấu nướng hàng ngày của mình. Trong một không gian bếp rộng rãi thoáng mát sẽ mang lại hiệu quả rất lớn. Điều này cũng phù hợp với các cuộc sông thời thượng hiện đại hoá ngày nay. Trong một không gian bếp đủ tiêu chuẩn đây là nơi tập trung những đồ dùng cho nấu nướng, tủ đế thức ăn, những dụng cụ chuyên dụng kèm theo. Do khá nhiều đồ đạc nên bếp phải có một diện tích phù hợp. Nếu bé quá sẽ gây cảm giác chật chội, không gây sự hứng thú cho người nội trợ. Căn cứ theo hệ thông tiêu chuẩn thiết kê nhà ở, với nhà ở thuộc câp 3A thì diện tích bếp có độ lớn ít nhất là 8m. Chiều rộng đạt ít nhất 2,lm, chiều dài đạt ít nhất 3m đế có thể bài trí đồ đạc, dụng cụ làm bếp được thuận tiện. Ngoài ra việc sử
dụng triệt để không gian cũng mang lại hiệu quả cao. Như vậy cho dù diện tích có hơi bé nhưng vẫn có đầy đủ chỗ đê sắp đặt đồ đạc. Với loại nhà ở thuộc cấp 2A thì diện tích bếp ở độ lớn ít nhất là 6m, chiều rộng ít nhất đạt l,8m chiều dài ít nhất đạt 2,7m. Còn đối vối loại nhà ở thuộc cấp 1A thì diện tích bếp ít nhất là 5 m với chiều rộng ít nhất đạt l,8m và chiều dài ít nhất đạt 2,4m.

Nhà vệ sinh: Phải đáp ứng được ba yêu cầu chức năng cơ bản. Đó là: nơi để tắm, giặt giũ và vệ sinh. Cho dù nhà vệ sinh luôn được giữ sạch sẽ và thoáng mát nhưng tốt nhất chúng ta vẫn nên đế khu vực này cách ly với nơi ở. Khi nhìn từ vị trí của nhà vệ sinh cần chú ý: với nhà vệ sinh dạng đơn (là loại nhà vệ sinh được xây ghép cùng một phòng nào đó) cần lưu ý mối quan hệ của nó với phòng ngủ, đặc biệt là phòng ngủ của chủ nhân. Với phòng vệ sinh được sử dụng mang tính công cộng (không đặt riêng lẻ trong một phòng nào) thì cần đặt ở vị trí cho thuận tiện sử dụng. Đặc biệt là không được để cửa nhà vệ sinh đốì diện vói cửa ra vào. về vấn đề diện tích của nhà vệ sinh, nếu nhà vệ sinh còn có bồn tắm thì chiều rộng ít nhất phải đạt l,6m. Còn nếu nhà vệ sinh thông thường không có bồn tắm thì chiều rộng phải đạt ít nhất là l,2m.
Phòng ngủ: Nói về phòng ngủ còn được phân chia làm các loại phòng ngủ chính (là phòng của chủ nhân), phòng của con cái, phòng ngủ cho người già. Thông thường phòng ngủ của chủ nhân có chiều rộng không được ngắn hơn 3,6m. Diện tích phòng phải đạt khoảng 14 đến 17m. Những phòng ngủ còn lại có chiều rộng ít nhất cũng phải khoảng 3m, diện tích phòng tầm 10 đến 13m. Ngoài ra, chúng ta cần chú ý đến tính riêng tư trong phòng ngủ. Phòng ngủ cũng nên cách phòng khách một khoảng không gian nhất định. Bởi nếu khi có khách, tiếng ồn không làm người trong phòng bị ảnh hưởng. Nhất là trong phòng ngủ của chủ nhân phải có tính riêng tư cao, không bị các ngoại cảnh khác làm ảnh hưởng đến.
Những không gian phụ trong khu nhà ở: Mặc dù chúng được gọi là những không gian phụ nhưng những hiệu quả chúng mang lại cũng rất lớn, do vậy không thể bỏ qua. Những không gian phụ này bao gồm ban công, khu vực chứa đồ. Cho dù những nơi này chiếm một diện tích nhỏ nhưng tầm quan trọng của chúng trong cuộc sống hàng ngày rất đáng kể. Chẳng hạn khu vực chứa đồ là nơi để các đồ cũ. Nhờ có nó sẽ giúp bạn tiết kiệm được rất nhiều không gian. Hay như các ban công sẽ làm căn nhà trở nên thông thoáng mát mẻ hơn. Đây là nơi trực tiếp đón những luồng vận khí mới vào nhà và xua đi vận khí xấu, làm tăng thêm nguồn dương khí (ánh sáng mặt tròi), thông thoáng không khí trong nhà. Bên cạnh đó, ban công cũng
Nói tóm lại, căn cứ theo những diện tích nhà khác nhau, đế phân chia thành các khu vực và bô’ trí đồ đạc cho hợp lý. Với nhà có kinh tế chưa cao thì chỉ tập trung vào những yêu cầu cơ bản của cuộc sông. Với gia đình kinh tê trung lưu (tầng lốp phổ thông) thì chú trọng vào không gian linh hoạt còn vói những căn hộ cao cấp lại chú trọng nâng cao chất lượng sông và hoàn cảnh sống xung quanh.